Thursday, 6 October 2011

Film hay Digital ?

Vào năm 2004, Quân ngồi nói chuyện với bà giáo dạy chụp hình, lúc đó Quân có hỏi là trong tương lai kỷ thuật chụp ảnh Digital có giết chết về ảnh phim nhựa không? Bà giáo nói đây là một đề tranh luận mà không kiếm được câu trả lời thỏa đáng cả. Thời gian lúc đó chụp ảnh phim vẫn còn ở vị trí lợi thế hơn phim digital rất nhiều. Vì theo Quân nhớ máy Nikon D70 vừa mới ra đời, phận độ giải phim chỉ có 6.1 megapixel. Anh chàng họ Fuji cũng cho sanh ra S2 và trước đó vài tháng anh chàng họ Canon vừa sanh ra cậu EOS 300D, phận độ giải 6.3 megapixel. Tính ra như vậy là hang cao cấp lắm rồi nhưng chất lượng rửa hình vẫn chưa ăn đứt được nhà Film nhựa. Thêm nữa giá tiền sắm các máy Digital không phải là nhẹ túi cho lắm.
Vài năm sau, sự phát triển máy chụp hình digital ngày càng mạnh, hai ông đại gia Nikon và Canon từ từ không phát triển máy phim nữa, bỏ hết sức lực phát triển máy chụp hình Digital. Máy chụp hình digital từ từ xuống giá để thích hợp cho người tiêu thụ, thêm nữa sự phát triển của mặt hang điện tử là luôn là sự tiện lợi cho người tiêu thụ, nên ai nấy sẽ chuộng mặt hang Digital và dần dà sẽ quên đi máy phim nhựa. Thật sự đến giờ hầu như ai cũng quên đi những cái máy phim Canon ESO hay F4, F5 Nikon rồi. Rồi đến chất lượng chụp bằng máy Digital xem hình ảnh cũng như Film nhựa rồi. Vậy thì rõ rang Digital ăn đứt máy phim nhựa, hơi đâu tranh luận loại nào tốt hơn chi cho mệt.
Vậy chúng ta có câu trả lời cho câu hỏi cho bạn Thanh Hương chưa? Câu của bạn là Digital và Film – hình nào đẹp hơn? Một câu hỏi ngắn mà tạo ra nhiều chữ để trả lời. Theo Quân nghĩ nhiều người sẽ nói tất nhiên Digital số một, vài người khác phim vẫn hơn và vài người khác thì mỗi cái có cái hay khác nhau.
Riêng Quân thì không so sánh Film hay Digital vì Quân cho giờ hai thứ này trở thành hai trường phái rồi. Tùy người chụp ảnh chọn lựa cái nào thích hợp. Quân không biết nhiều hội họa nhưng xin tạm lấy ra so sánh là cũng cây cọ, cây bút vẽ, nước màu, giấy vẽ thì Họa Sỹ Doãn Quốc Vinh sẽ vẽ một trường phái hoàn toàn khác với Họa Sỹ Choé vì ông chuyên vẽ hí họa (mình không so sánh tài năng). Còn cái đẹp thì tùy theo người xem và yêu thích nghệ thuật nào.
Cũng như nho, táo, cam, dâu... đều là trái cây nhưng hỏi cái nào ngon hơn thì xem ra tìm câu trả lời hơi khó, mà cũng chẳng có câu trả lời vì thứ nào cũng khoái khẩu cả. Nói vậy là máy phim nhựa hay digital cũng cho ta tấm ảnh cả vậy thứ nào đẹp hơn? Thì cũng nói chẳng trả lời được.
Trước kia chúng ta sử dụng máy phim nhựa, thì chúng ta cũng chỉ xài phim loại căn bản như là Kodak film 100, 200 và 400 hay Fuji nhưng chúng ta không xài những loại phim mắc tiền hơn như Fuji pro- 160s, Kodak potra 160... hay những loại phim slide thì như vậy ta không nhìn thấy hết cái đẹp của phim.

Vào phòng tối rửa và tráng phim cả một nghệ thuật cũng như chụp Digital sau đó dung Software để làm hình thì cũng cả một nghệ thuật. Đến đây thì chỉ còn nói là tài năng từng người. Ai khả năng cao sẽ có những tấm ảnh nghệ thuật tuyệt vời thì như vậy ta có thể nói Film và Digital là hai trường phái khác nhau nhưng lại bổ xung cho nhau để phát triển nghệ thuật nhiếp ảnh.

Nếu chỉ lấy căn bản ra so sánh thì như nhau cả, chẳng có gì phân biệt cả, mà chẳng những thế ta lại đem sự tiện lợi ra so sánh thì tất nhiên Digital sẽ ăn trùm rồi. Chẳng hạn đi từ Washington DC đến San Francisco thì có bao nhiêu phương tiện? Máy bay, xe hơi, xe máy và xe lửa? tất nhiên máy bay thì ăn trùm tuy nhiên hỏi cái nào vui hơn thì chưa biết à!!!!

Vậy có câu trả lời cho bạn Thanh Hương không? nếu bạn hỏi bình thường trong việc chụp ảnh thì dĩ nhiên là Digital nhưng về nghệ thuật thì không có câu trả lời vì đây là hai trường phái rồi. Cũng như xem cuộn phim Bicycle Thieves hay La Strada điện ảnh Italy , đây là những cuộn phim trắng đen cũ mèm (sẽ có bài viết về phim xưa) nhưng ai nấy đều nói là phim hay, phim quay vào năm 1948 và 1954 không có máy digital để quay mà giờ xem lại vẫn ăn khách như thường. Hay lật lại trang Blog cũ thì sẽ nhớ lại những tấm ảnh anh Tùng bên Canada chụp bằng máy phim cũ mèm Canonnet thì thấy anh là người yêu nghệ thuật nhiếp ảnh không ràng buộc vào phương tiện nào cả. Nhưng còn người nhờ máy ảnh kiếm tiền như Quân thì trước sau gì vẫn là digital.
Đây là suy nghĩ của Quân, mong thêm ý kiến của các mình về đề tài này nha.

Hướng Dẫn Chụp Hình Theo Phương Pháp Mì Ăn Liền 1

Quân sẽ từ từ đóng góp các bài viết là làm sao để chụp ra một tấm hình đẹp. Quân sẽ bớt nói về các kỹ năng của chiếc máy chụp mà nặng phần tư tưởng nhiểu hơn. Thường thì những người chọn thú giải trí về nhiếp ảnh, nhất là người Châu A luôn nói về máy chụp hình hơn là cách chụp hình. Khác với nhà họa sỹ là họ nói về nghệ thuật tranh ảnh chứ rất ít khi nói về cây cọ, cây bút nào để vẽ ảnh.

Có những lần đi chơi tại Việt Nam, gặp các bạn trẻ thích về chụp hình thì trong lúc truyện trò thì Quân để ý các bạn đó hết 90% bàn về các loại máy ảnh, chức năng, công dụng của nó, sau đó họ vanh vách kể ra các loại ống kính. Vì lịch sự không muốn mích long, Quân rất muốn nói là các bạn đó mà đi bán máy ảnh thì thành công hơn là chụp ảnh. Xin dừng câu chuyện đó tại đây vì nói thêm thành một câu chuyện sẽ đi sai chủ đề của bài viết.

Trong những năm vừa qua, trong nhóm bạn chúng ta là Thái và Trang đi chụp thiên nhiên và song núi nhiều nhất. Nay Quân dựa vào hai đề tài đó để viết với phương pháp chụp theo kiểu mì ăn liền.

1. Chụp hình núi

Nếu chụp ta chụp hình núi , xin nhớ là đừng đứng dưới đường tìm cách chụp hết cái núi. Tại vì đây là một cái cảnh mà ta thường thấy . Nếu ta cố chụp, nghĩ là sẽ là tấm hình đẹp nhưng thật sự là không có một thu hút hút gì cho người xem đâu. Nếu ta muốn có một tấm hình đẹp về cảnh núi non hung vĩ, thì hãy chụp những gì mà người xem ít được thấy. Nếu có đường cho xe lên núi (thường ở bên Bắc Mỹ có các con đường tiện lợi cho xe lên cao). Còn không phải leo núi như trong thời gian vợ chồng Thái Trang hay đi Hiking, rồi từ trên đó chụp xuống hay chụp các dãy núi trùng điệp. Như vậy sẽ có tấm ảnh tuyệt vời chứ còn chụp từ dưới lên thì không ai để ý vì đây là cảnh con người thường hay thấy.

Nguyên tắc con người vẫn thích xem những gì mình không được thấy.

2. Chụp Hoa

Chụp hoa thì ngược với chụp núi là luôn tránh chụp từ trên xuống, vì nếu ta đi dạo trong công viên ta hay thấy những cây hoa dưới tầm mắt ta, mà ta hay nhìn thấy cảnh như vậy, nếu ta cố lấy máy ảnh chụp thì sẽ ra một tấm ảnh rất bình thường. Vậy ta phải tìm cách đứng một góc độ khác biệt mà người xem không nhìn thấy được mỗi ngày.

Đây là cách người chụp hình chuyên nghiệp là luôn tìm góc cạnh khác người để chụp, còn người chụp bình thường là tìm góc cạnh dễ dàng để chụp.

Bởi vậy khi chụp hoa, có những lúc nằm bò ra đất để chụp, nên sẽ bị dơ quần áo và tay chân đầy đất cát.

Nhớ chụp hoa không chụp từ trên cao xuống.

3. Thời gian chụp hoa

a. Ngày nhiều mây, che bớt ánh sang chói chang của mât trời là thời gian chụp hoa đẹp nhất vì ánh mặt trời trở nên dịu khi nằm ẩn trong mây, và sẽ tạo nổi bậc màu sắc của hoa. Còn nhiều ánh sang trời sẽ tạo ra những tia chiếu khó chịu và mất đi màu hoa. Trong nghành nhiếp ảnh đã có câu nói: Ngày nhiều mây che bớt ánh sang mặt trời , đó là ngày đẹp của các thợ chụp hình.
b. Sau khi mưa là thời gian lý tưởng nhất, vì bầu trời vẫn còn bị mây che, các giọt mưa còn nằm trên các đoá hoa, sẽ tạo ra một tấm ảnh tuyệt vời. Nếu ai có ống kính Micro thì sẽ chụp được tia nước đọng trên hoa đi chung với màu sắc của hoa.
c. Nếu ngày có nhiều mặt trời thì chỉ còn cách chụp vào bình minh hay hoàng hôn mà thôi. Thường thì người ta sử dụng ống kính dài trong tình trạng này. Bởi vậy các bạn mà có dịp về Sài Gòn đi ra nhà thờ Đức Bà xem nhiếp ảnh chụp hình cưới, các bạn sẽ thấy các ông nhiếp ảnh dung ống kính dài chụp mà thôi vì Sài Gòn có những nóng chói chang chụp hình rất là khó vào những buổi trưa nóng nực....
Tạm dừng bài hôm nay, nếu các bạn muốn thêm đề tài này nữa , Quân sẽ đóng góp bài lần sau là chụp cho một nhóm bạn và chụp đám đông sao cho mọi người đều mở mắt.

Monday, 3 October 2011

Lớn lên với điện ảnh

So với bây giờ thì lớp tuổi nhi đồng của bọn tôi thiếu thốn rất nhiều trò giải trí. Các món đồ chơi vô cùng đơn sơ, hầu như là đồ chơi đều “Made in Cholon”. Ai may mắn thì phụ huynh ra thương xá Tax mua các món đồ chơi sản xuất tại ngoại quốc, chạy bằng dây cót, tân tiến hơn là xe chạy bằng pin, nhưng cũng không được chơi thoải mái, ông bà cụ đem cất trong tủ khóa lại, rồi trong tuần cho phép rủ bạn bè đến nhà là mở món đồ chơi ra chơi dưới sự giám sát của phụ huynh, chứ không phải chơi thả giàn là hư thì bỏ vào thùng rác như thời bây giờ. Còn ai may mắn hơn nữa là có thân nhân đi du học tại ngoại quốc, vài tháng gởi đồ chơi về cho, thường là những chiếc xe ô tô của công ty “Match Box” sản xuất. Đồ chơi thì khan hiếm nên đành chơi các thứ bình dân tự chế như con gái thì chơi nhảy dây, đánh đũa. Còn con trai thì chơi tạt lon, bong vụ, bắn bi, ống thụt, dzít hình, sung gỗ, đánh trõng và vv.... lâu lâu trai gái chơi chung là đánh cờ triệu phú, đá ngựa , chơi u, nhảy cò cò, làm đám cưới giả và cuối cùng là hai phe cãi lộn bằng miệng chứ không đánh nhau.
Ngoài giải trí đó thì được thêm ưu ái của gia đình với tài chánh ổn định là cho đi xa vào mùa nghĩ là đi Đà Lạt, còn không đi Vũng Tàu hay Long Hải tắm biển. Nếu không được những chuyến đi chơi thì ngày Chủ Nhật bậc phụ huynh cho đi cinema vào ngày Chủ Nhật. Đây là món giải trí tương đối điều đặn và kéo dài trong sinh hoạt của người viết.

Nhớ lại 5 năm đầu của thập niên 70, cứ mỗi sang thứ hai, tôi cùng vài đứa bạn như Phạm Trọng Thùy, Phong Thái, Thanh Sơn (Sơn đen)... đứng một góc lớp bàn cuốn phim chưởng vừa mới xem hôm qua. Cứ diễn tả lại các diễn viên Hong Kong và Đài Loan đánh nhau như thế nào. Sự tham gia vào nhóm nhóc xem phim chưởng được đông nhất là sau dịp Tết Nguyên Đán trở lại trường vì hầu như con trai trong lớp được cha mẹ cho đi xem phim. Tôi nhớ nhất sau mùa nghĩ Tết năm con Cọp 1974, cả đám vào bàn cuốn phim “Ngũ Hổ Tướng” do Khương Đại Vệ và Địch Long đóng vai chánh, rồi phim “Thủy Hử”, rồi thêm phim Thái Lan là “Tình cô gái rắn”....Phải nói trong khoảng thời gian đó tôi chỉ biết phim chưởng Tàu mà thôi. Thỉnh thoảng tôi mới đi xem phim Việt Nam như phim “Chân Trời Tím” do Hùng Cường và Kim Vui đóng, dựa theo tác phẩm của Văn Quang và đạo diễn là Hoàng Vĩnh Lộc. Tôi nhớ đi xem phim này tại rạp Văn Hoa trên đường Cao Thắng, những phim khác là “Trần Thị Diễm Châu” dựa theo tác phẩm của Duyên Anh, tôi đã xem phim này tại rạp Nam Việt chợ cũ, mua một vé được xem hai phim mà tôi chỉ nhớ phim thứ hai là phim chưởng mà không nhớ phim gì nữa, phim nữa là “Lệ Đá”, xem tại rạp Kim Châu nhưng tôi xem không hết phim vì diễn viên Đoàn Chậu Mậu sao mà sợ quá, ông giả ma nhát tôi là tôi khóc liền, nên xem giửa chừng đòi về nên bị mẹ tôi la quá. Phim xem thấy sợ nhưng bài hát “Lệ Đá” thì nghe rất hay. Xem phim Việt Nam thì ít nhưng tôi lại nhớ tựa phim Việt Nam nhiều lắm. Như thế này, vào thời đó tôi rất thích đọc báo Sóng Thần mà mỗi lần muốn đọc tờ đó phải qua nhà hàng xóm đọc vì ở nhà chỉ mua báo Chính Luận, còn Thư Viện Quốc Gia Hành Chánh nơi mẹ tôi làm chỉ mua hai tờ báo là Chính Luận và Đại Dân Tộc. Tôi không xem hai tờ đó vì nhiều tin tức, còn tờ “Đại Dân Tộc” thì tôi chỉ xem hình vẽ của Họa Sĩ Choé mà thôi. Tôi thích tờ Sóng Thần không phải tin tức trong đó mà tôi thích là có trang Cinema, nói các rạp hát đang chiếu cuốn phim cho khan giả đi xem. Những ô đầu là họ ghi những rạp hát đắt tiền và luôn kèm theo chữ có máy lạnh, màn ảnh đại vĩ tuyến như rạp Rex, Eden, Lê Lợi, Mini Rex A và B... sau đó tới hạng khá như Đại Nam, Casino Sài Gòn, Vĩnh Lợi, Quốc Tế, Palace, Opera dưới Chợ Lớn.... rồi hạng trung và hạng thấp như Hồng Bàng, Nam Việt, Cao Đồng Hưng, Casino Đa Kao, Văn Hoa Đa Kao, Khải Hoàng, Đại Đồng Sài Gòn lẫn Đa Kao, Nam Quang, Long Vân.... đây là những rạp tôi chiếu cố nhiều nhất vì mua một vé được xem hai phim. Tôi không bao giờ thích xem phim rạp Rex vì tại đó chuyên chiếu phim Hollywood, nhưng tôi cứ bị bố mẹ tôi la là tại sao cứ mê các loại phim chưởng ba xu. Tôi có thằng bạn hàng xóm nó thuộc loại con một trong nhà, học trường Tây, cô thầy giáo đến nhà dạy kèm tiếng Pháp và học đàn Piano. Nó cũng nói cuối tuần nó cũng đi xem phim nhưng xem phim Tây tại rạp Rex, nó hỏi tôi một số phim Mỹ thì phim nào tôi cũng lắc đầu không biết, mà vào lúc đó tôi chỉ biết được có hai phim Mỹ là “Robin Hood” và “Bạch Tuyết và 7 chú lùn”. Tôi nhớ mẹ tôi cho đi xem ở rạp Rex nhưng cái ấn tượng đến rạp thì tôi lại nhớ nhất cho đến nay là tấm Poster của phim “Sound of Music” hình cô gái cầm cái đờn guirtar và mấy em nhỏ ngồi dưới đất. Thằng bạn này ngồi say sưa kể chuyện phim ngoại quốc như là phim ở đẳng cấp cao, tôi nghe thì cứ nghe nhưng tôi không tin các phim đó là phim hấp dẫn. Nghe đâu nó đã đi Mỹ, tôi cũng muốn gặp lại nó vì những phim nó kể thì giờ tôi được xem trên TV hết rồi, nhưng con phim chưởng tôi coi thì chưa chắc nó được xem như tôi.

Thật ra là vào những năm 1969 và 1970, mẹ tôi cho tôi đi xem Cowboy của đạo diễn Ý nhiều lắm, nhất là phim Django, anh chàng Django chuyên kéo quan tài có khẩu sung máy trong đó. Thời đó nhà tôi còn ở đường Cao Thắng, nhưng khúc dưới chợ 20,gần đường Trần Quốc Toản, chứ băng qua đường Phan Thanh Giản là dân nhà giàu rồi. Mẹ tôi luôn dắt tôi đi xem phim ở rạp Đại Đồng, một vé hai phim, bởi vậy sau phim cowboy là phim chiến tranh đánh Đức nên tôi xem luôn những phim như “Guns of Navaron”, “Great Escape”, “Ryan’s express”, “The train”.... Đối diện rạp Đại Đồng, có một gia đình nhà tôi quen, họ mang Họ Bùi, nghe đâu cũng là thân nhân của cựu đại sứ Bùi Diễm, nhà to lắm, y như cái biệt thự, vào trong nhà thấy nhiều bàn thờ, để ảnh thờ các quan đại thần nhà họ Bùi, tôi không rõ nhà này có họ với ông Bùi Viện không? nhưng tôi biết chắc đường Bùi Viện tại đâu ở Sài Gòn. Trong nhà có nhiều anh chị em, cũng y như family Von Trapp của phim “Sound of Music”, nhưng họ không nghịch gợm nhưng đám con của ông Von Trapp, mà ông bố của họ chăm sóc họ rất kỹ là ăn uống có giờ có giấc, phải vệ sinh trước khi ăn cơm, phải có giấc ngủ trưa, không được nói bậy, không được xem chuyện hình chợ lớn như người điện quang, hiệp sĩ mù, người siêu nhân, người nhện, người dơi..... mà càng không được xem phim chưởng. Tôi đến chơi là các anh em lén lút mượn chuyện hình của tôi lên sân thượng ngồi đọc. Sân trước nhà của họ rất lớn, ngồi bên hồ cá nhìn lên là thấy rạp Đại Đồng. Tôi cứ hỏi mấy anh đã đi xem phim rạp Đại Đồng chưa, anh nào cũng nói chưa được đi. Giờ thì tất cả đã đi qua Mỹ và căn nhà Cao Thắng đã bán đi cũng trên 5 năm nay rồi. Rạp Đại Đồng vẫn còn đó nhưng chắc không ai muốn vào xem nữa.

Năm 1972, mẹ tôi đi tu nghiệp bên Uc 18 tháng, nên Bố tôi có hứa là mỗi tuần cho tôi đi coi Cinema, trong thời gian mẹ tôi vắng nhà, nhưng bố tôi cũng cho tôi đi rạp hát loại một vé hai phim, nên hai rạp tôi được thay phiên xem liên tục là rạp Hồng Bàng ở đường Pasture và rạp Nam Việt gần đó. Bố tôi dắt tôi đi vài tháng là ớn tận cổ những phim do Vương Vũ đóng hay Khương Đại Vệ, Địch Long, La Liệt, Trần Tinh.... là dung kiếm hay tay chặt một cái là máu phọt khắp nơi, công nhận xem dơ thiệt, tôi vẫn khoái xem, còn ông bố đầu hàng là đành cứ vào cuối tuần thuê một thằng nhỏ hàng xóm cho nó đi theo tôi để xem phim.

Ai cũng biết những thập niên 70, kinh tế miền nam hầu như nằm trong tay Hoa Kiều, có lẽ vì lý do đó phim võ thuật Hong Kong và Đài Loan chiếm lảnh hết thị trường miền nam. Cho dù các công ty điện ảnh tại miền nam Việt Nam như Mỹ Vân, Alpha... họ cố sản xuất những cuốn phim Việt Nam mà tôi còn nhớ những tựa đề như “Loan Mắt Nhung” đạo diễn là Lê Dân, “Con ma nhà họ Hứa” - Đạo diễn Lê Hoàng Hoa, tôi chưa có dịp gặp ông Đạo Diễn này nhưng tôi biết chắc là ông ta có giấy tờ sống bên Ba Lan và con gái đang du học tại Anh quốc. Những phim khác như “Gánh hàng hoa”, “Nhà tôi”, “Sợ vợ mới anh hùng”, “Năm triệu phú bất đắc dĩ”, “Vết thù hằn trên lưng ngựa hoang”, “Anh yêu em” của đạo diễn Nguyễn Long, Ong Long đã mất vào năm ngoái, ông ta một lần đến Anh quốc thập niên 90, sau đó ông có ra quyển hồi ký của ông khá dầy, tôi vẫn còn quyển đó trong kho sách của tôi. Đến năm 2000 ông ta có ra thêm một quyển sách nữa, tôi quên mất tựa nhưng tôi vẫn để quyển đó trong kho sách của tôi, tôi biết chắc tôi có là vì tôi biết ông ra quyển lịch sử điện ảnh Việt Nam, tôi muốn mua về làm tài liệu, thì vào năm đó thằng em tôi đi Mỹ, nó đi Little Saigon, tôi nhờ nó đi mua quyển điện ảnh, nó đi hết các tiệm sách Việt Nam không chỗ nào bán hết, nhưng nhà sách mach nó đi ra một tiệm phở có một ông già chuyên ngồi trước cửa, đó là tác giả và hỏi ông ta. Thằng em tôi qua đây từ nhỏ, đối với nó văn hóa Việt Nam là một thứ không bao giờ để tâm. Nó ra tiệm phở, nhìn đi nhìn lại không thấy ai như là người bán sách, nó kể tôi nghe chỉ thấy một ông già ăn mặc lôi thôi, nói tệ hơn y như là người “Vô gia cư – Homeless”. Nó đành hỏi ông ta và ông ta nói là Nguyễn Long. Nó mới hỏi quyển điện ảnh thì ông ta hết rồi và giới thiệu quyển sách mới. Nó phone về hỏi tôi mua không, tôi nói thôi mua đi. Khi đem về đây thì quyển sách dở thật , nên quên tựa đề là vậy. Thằng em tôi thì nó không tin đó là nhà Đạo Diễn Việt Nam ngày xưa. Mà cũng nhờ đọc hồi ký của đạo diễn Nguyễn Long thì tôi mới biết thêm các chi tiết giận hờn giữa ông và nhà văn Duyên, rồi Ao Thả Vịt trên báo của nhà văn Chu Tử và các chuyện sinh hoạt văn nghệ tại Sài Gòn. Các phim Việt Nam kể trên là tôi chưa được đi xem bên Việt Nam, chỉ có một số sau khi qua đến đây, tôi được xem qua DVD như phim “Người Tình Không Chân Dung” - Đạo diễn Hoàng Vĩnh Lộc, “Tứ quái Sài Gòn”, “Xa lộ không đèn”, “Như giọt sương khuya” và “Nắng chiều”.

Phải công tâm mà nói phim miền nam Việt Nam thời xưa thiếu đấm đá như phim võ thuật Tàu, đôi lúc đối thoại giữa các diễn viên khá chậm, xem chừng ảnh hưởng các loại phim Pháp. Tình tiết không ly kỳ dễ đoán ra cốt truyện, nhưng lại bạo hơn phim Tàu là có một vài cảnh “Sex” nhẹ y như các phim Pháp, nhưng vào thời đó là khá mạnh, nếu xem phim “Như giọt sương khuya” mới vào phim đã thấy diễn viên Trần Quang ôm một cô rồi. Cảnh nữ diễn viên Thẩm Thúy Hằng trong phim “Tứ Quái sài Gòn” đi tắm trong bồn tắm vô cùng sexy làm cho La Thoại Tân lé cả đôi mắt.

Vào năm 1972, các cuốn phim của diễn viên Lý Tiểu Long như “Đường Sơn Đại Huynh – Big boss”, “Tinh võ môn- Fist of Fury” xuất hiện tại Sài Gòn đã thu hút hết khan giả say mê về Cinema. Ong Lý Tiểu Long đã thay đổi hoàn toàn về cách làm phim võ thuật, mọi thứ là sự thật, vì ông ta là một võ sư, cũng nhờ ông mà điện ảnh Hong Kong có một thế đứng vững vàng vào ngày hôm nay và mọi người biết được đến những tên tuổi như “Jackie Chan – Thành Long”, “Sammo Hung - Hồng Kim Bảo”, “Chậu Nhuật Phát” . Tuy là nói phim chưởng Tàu ăn khách thì mình cũng nghĩ lại là thị trường điện ảnh của miền Nam còn bị trong kỹ thuật thô sơ và hoàn cảnh chiến tranh khó mà phát triển nổi. Nhìn lại lúc đó các nước chung quanh như Đại Hàn, Thái Lan, Mã Lai, Phi Luật Tân, Nam Dương.... cũng đâu ra được cuốn phim nào ăn khách như ngày hôm nay. Còn nội dung của các phim Tàu cho đến ngày hôm nay họ cũng còn quanh quẫn với các nhân vật lịch sử của họ như Hoàng Phi Hùng, Hoắc Nguyên Giáp, Hoàng Kỳ Anh, Trần Chân và gần đây nhất họ đem nhân vật YIP MAN là một võ sư kỳ tài về võ Vịnh Xuân, cũng là thầy của Lý Tiểu Long ra làm phim. Còn không thì họ cũng vẫn sử dụng những đề tài như Hoả Thiêu Thiếu Lâm Tự, Vua Càn Long... họ cứ pha chế từ chuyện thật cho đến lúc thành chuyện hoang đường vì người viết nghĩ các nhân vật đó có sống dậy thì họ cũng không tin tài của họ có thể bay từ nóc nhà này qua nóc nhà khác. Chỉ có tiếc là Việt Nam mình không khai thác được những nhân vật trong lịch sử ra thành phim như Phạm Hồng Thái, Nguyễn Thái Học, Cô Giang, Trần Quốc Toản, Yết Kiêu, Dã Tượng, Phạm Ngũ Lão, Lê Văn Khôi.... nhất là ngày hôm nay mình có đủ can đảm làm phim Hội Nghị Diên Hồng không? chứ người Tàu họ luôn làm những cuốn phim đánh thắng Nhật một cách dũng cảm, còn mình có sợ như chuyện hơn 30 năm về trước về tuồng cải lương Thái Hậu Dương Vân Nga mà cô đào Thanh Nga bị bắn chết đến giờ vẫn chưa có bằng chứng cụ thể nhưng trong long người ái mộ cô Thanh Nga vẫn đoán ra ai là thủ phạm?.

Có lẽ cái Tết năm 1975 là lần chót tôi đi xem phim chưởng Tàu của thập niên 70 tại Sài Gòn. Sau đó tình hình chiến tranh tại Nam Việt Nam có nhiều biến cố, đâu ai còn nghĩ đến các tiết mục giải trí .Sau đó ngày 30 tháng 4 đã xảy ra và ai cũng biết những văn hóa gì trước đó phải chấm dứt để thay thế một nền văn hóa khác. Tất nhiên không loại trừ về giải trí điện ảnh, tôi nhớ cuộn phim đầu tiên của điện ảnh xã hội chủ nghĩa là “Đường về quê mẹ”, loại phim chiến tranh đánh Mỹ, anh bộ đội tên là Núi, một mình ôm những quả bom Mỹ xếp lại, sử dụng đó là vũ khí đánh Mỹ, về đêm Bomb Mỹ thả nhiều quá, anh chui vào trái bomb đã nổ mà ngủ... Phim trắng đen, chiếu trên truyền hình. Lúc đó bọn tôi đã được giáo dục Mỹ là kẻ thù của dân tộc Việt Nam, tuổi con nít dể nhận mọi thứ vào trong đầu, không cần biết thị phi trắng đen. Nên xem xong phim đó, cả bọn tôi trong xóm trầm trồ khen ngợi phim quá hay, đem những chi tiết anh Núi ngũ trong bomb là một cái gương cao cả, tất cả chúng tôi quên hết những tháng về trước đây đã xem những cuốn phim chưởng Hong Kong, không ai muốn nói tới vì đó là văn hóa đồi trụy.

Tôi bắt đầu lớn lên với điện ảnh xã hội chủ nghĩa. Thời gian đầu của ngày tháng sau tháng 4 năm 1975, tôi chưa được đi xem phim tại rạp hát, lúc đó tôi có đi ngang qua một số rạp vào khoảng tháng 9 hay 10 của năm 1975 thì thấy rạp Hồng Bàng, Kim Châu có mở cửa, nhưng không thấy ai vào xem, ngoài cửa rạp có để chiếu cuốn phim “Điện Biên Phủ”. Thằng bạn hàng xóm (được bố tôi thuê đi xem phim với tôi) có đi xem, về nó kể phim hay lắm, pháo ta nổ làm lính Tây chết như rạ, quân ta vận chuyển khí giới lên Điện Biên Phủ hết xảy và vv... Nó lại đi xem phim này với thằng bà con của nó mà bố mẹ thằng này từ trong rừng mới ra, cán bộ cao cấp vượt Trường Sơn vào trong Nam, được cấp một căn biệt thự tại đường Phan Đình Phùng, tôi có nhớ lại căn biệt thự này một lần thì cái thằng này nó mở máy lạnh và mở hết các cửa sổ, nó nói như vậy cho mát. Sau này tôi có nghe thằng này đi đông đức lao động. Còn thằng hàng xóm của tôi giờ đang ở Canada vì bố nó là thuyền trưởng, cấp tá trước năm 1975, đến ngày “đứt phim” ông ta quýnh quánh lái tàu đi mất tiêu, sau này mới bảo lãnh nó qua đó.

Sau đó phim Điện Biên Phủ có chiếu lên TV, một loại phim tài liệu, tôi xem được 5 phút là ngủ gật, đến giờ tôi cũng chẳng biết nội dung ra sao. Đến mùa hè năm 1976 là lần đầu tiên tôi được quay lại rạp hát, mẹ tôi dắt tôi đi xem phim ở rạp Đại Nam, phim tôi được xem là phim “Trẻ Mãi Không Già”, phim thần thoại của Rumani. Lúc đó đầu óc tôi không còn nghĩ đến phim chưởng Tàu nữa, còn cho đó là phim phản động, không nên xem, những phim xã hội chủ nghĩa là số một.

Đài truyền hình bắt đầu cho chiếu những phim của miền Bắc quay thời gian chiến tranh, những phim tôi được xem là “Anh Kim Đồng”, “Chị Tư Hậu”, “Vĩ tuyến 17 ngày và đêm” là tôi được biết đến nữ diễn viên Trà Giang, vài năm trước kia, tôi đi quay phim đám cưới, có một số khách miền Bắc họ ngồi nói chuyện rất là nghiêm túc vì tối hôm trước họ được gặp diễn viên Trà Giang qua thăm con du học tại London. Thêm những phim như “Nguyễn Văn Trổi”, “Cù Chính Lan” một mình chạy bộ theo xe tăng để ném lựu đạn, “Chị Nhung”, “Nổi Gió” và “Đến hẹn lại lên”.

Những năm đầu thống nhất, chính sách của nhà nước là cho những máy chiếu phim di động về những vùng ven Sài Gòn, ngoại ô và ngoài tỉnh để chiếu cho dân chúng xem. Tôi cũng hay đi xem những loại phim ngoài trời này, con nít ngồi la liệt xuống dưới đứng, người lớn thì đứng xem, phim chiếu thì chẳng có phim gì mới, vẫn là phim tuyên truyền, cho dù đã thắng Mỹ, vẫn cho dân xem tiếp, một phần số người miền nam lúc đó thất nghiệp kinh niên, đâu có gì làm, cho dù phim đã xem rồi cũng đi xem phim cho đỡ chán.

Đời sống sinh hoạt của Việt Nam ngày càng khó khăn vào năm năm sau cùng của thập niên 70, chuyện phim ảnh không còn là sinh hoạt giải trí của từng gia đình nữa, những cái gì trước kia phải phá bỏ, cái gì mang tên ngoại không được phép tồn tại, các rạp hát mang tên như Casino, Eden, Rex, Opera, Palace, Lux... phải biến mất để thay thế những tên như Lao Động, Vinh Quang... các ông chủ rạp hát dần dà chỉ còn bàn tay trắng. Thế hê Sài Gòn sau này không ai còn để tâm gì quá khứ Sài Gòn ngày xưa, một phần không có một tài liệu để lại cho họ đọc cả. Như nơi làm việc của tôi tại đây, có những cô thuộc thế hệ 80x lớn lên tại sài Gòn, có một lần tôi hỏi ai là người khai sanh ra rạp Rex , hầu như ai cũng đoán và trả lời là nhà nước Việt Nam. Không ai còn biết trước năm 1960 đó là tiệm bán xe hơi mang tên Bainer và sau đó ông Ung Thi mua tiệm này để xây rạp Rex. Đấy cũng là nơi có thang máy lăn (escalator) đầu tiên tại Việt Nam. Đến năm 1976 ông phải hiến hết gia sản của ông cho chính phủ hiện thời tại Việt Nam để đi định cư tại Pháp. Dần dà các rạp hát cũng xuống cấp, nhưng tôi vẫn lén nhà đi xem phim. Hể phim gì mang tựa đề hay hay là tôi đi xem liền, tôi tiêu thụ hết những loại phim cao bồi của Đông Đức sản xuất là “Những đứa con của gấu mẹ vĩ đại”, phim “Giải Phóng” của Liên Xô, “Người Cá” phim này khá ăn khách, đến nổi bài Hồ Gươm được sửa lời để cho người cá bơi tung tăng trong Hồ Gươm , rất tiếc đến giờ tôi quên hết những câu hát trong đó rồi. Các phim Liên Xô như “Chiến Tranh và Hòa Bình”, “Anna Karennina”, phim thần thoại như “Ruslan và Ludmila”, “Bạch Tuyết”.... Ngoài ra các đạo diễn Liên Xô cũng mượn các đề tài của tây phương làm phim như là phim “Những mũi tên của Rô Bin Gút (Robinhood), tôi nhớ lúc phim đấy chiếu tại Sài Gòn thì các rạp hát đông ghẹt, có lẽ người Sài Gòn nhớ đến Robinhood của Holywood thời xa xưa là Errol Flynn hơn là diễn viên Boris Khmelnitsky của Liên Xô đóng vai Robinhood mà rất nhiều người miền Bắc Việt Nam còn hoài hoài niệm về Liên xô thì họ rất thích Boris, họ còn cho hơn cả anh chàng tài tử gạo cội Kevin Costner của Hollywood đóng vai Robinhood vào thập niên 90. Thật ra khi Hollywood làm lại phim này thì các nhà bình luận đã phê bình là cùng một lúc Hollywood cho ra hai phim là “Hamlet” và “Robinhood”, lựa hai tài tử là Mel Gibson và Kevin Costner thì họ để không đúng vai vì Mel hấp dẫn lảng tử với một anh chàng cướp rừng xanh, còn Kevin thì đạo mạo với vai Hamlet, lý do đó hai phim đều không ăn khách như ý muốn.
Xem như phim Liên Xô thống lảnh tại Việt Nam ngoài miền Bắc cho đến sau này vào tận trong nam, chắc có lẽ đến ngày Liên Xô cáo chung thì mới không còn thấy trên thị trường Việt Nam. Chứ vào những giai đoạn đó có theo dõi hay không theo dõi phim ảnh tại Việt Nam thì ai cũng thấy những tên phim Liên Xô như “Moscow không tin những giọt nướt mắt”, “Cánh tay kim cương”, “Những chàng sĩ quan”, “Khi đàn sếu bay qua”, các phim cười như “ 12 chiếc ghế”, “Xổ số thể thao 82”.... rồi cả các phim tập Liên Xô được chiếu trên truyền hình, phim nổi tiếng nhất là “17 khoảnh khắc của mùa xuân” phim tình báo trong chiến tranh thứ hai, “Thép đã tôi thế đấy” dựa theo tiểu thuyết của tác già Nikolai Alexeevich Ostrovsky, nhân vật chính trong truyện là Pavel, một thanh niên lý tưởng dưới một mô hình của xã hội chủ nghĩa, nên nhân vật này thành thần tượng của giới thanh niên miền Bắc trong thời chiến tranh huynh đệ tương tàn của bắc và nam, có lẽ có anh hùng Pavel để noi gương thì mới có quyển nhật ký Đặng Thùy Trâm, đến sau này thêm một số thanh niên miền nam đi Thanh Niên Xung Phong qua tận Campuchia và giờ nếu muốn gặp những người đó rất dể dàng là cứ tìm những ông lái xe ôm tại Sài Gòn tuổi chừng 50 hoặc hơn thì hỏi những chuyện đi campuchia và đi công trường Lê Minh Xuân họ sẽ kể những câu chuyện ngày nào năm ấy.

Ngoài phim tập Liên Xô, các loại phim tập khác cũng thu hút nhóm trẻ Việt Nam là “Chín từng cây số” của Bungari, “ 5 chiến sĩ xe tăng và con chó” của Ba Lan. Nhưng ngược lại là khoảng thời gian đó phim Trung Hoa Đại Lục rất ít chiếu tại Việt Nam, tôi chỉ nhớ phim tôi xem qua là “Nam chinh bắc chiến”, phim hoạt hình “Tề Thiên Đại Thánh”. Ngoài ra có một phim Bắc Hàn tôi được xem nhưng sau 30 năm tôi quên mất cái tựa, chỉ nhớ khúc chót là hai mẹ con vượt biên giới từ Nam Hàn qua Bắc Hàn, rồi quay lại nhìn mảnh đất Nam Hàn mà tội nghiệp dân bên đó đang đau khổ dưới chế độ Pac Chung Hy.

Tôi xa dần các phim xã hội chủ nghĩa đông âu vì năm 1979 tôi rời Việt Nam và khi được định cư thì tôi được quay lại các loại phim Holywood, Hongkong, Phim bộ Hongkong, Đài Loan, các loại phim của Việt Nam được du nhâp qua đây và phim của người việt hải ngoại. Phần đó sẽ được kể trong bài sau.

Phim Được Khai Sanh Thế Nào?

Ngồi nghĩ lại thì thấy mình kiếm ra tiền là nhờ máy quay phim chứ không phải máy chụp hình, mà cái chi tiêu mình phí phạm nhất là cho máy chụp hình, tốn từ lúc biết xài máy chụp hình cho phim 35mm cho đến digital và còn tốn tiền đi học nữa. Chẳng những thế có kể chuyện với bạn bè thì toàn nói chuyện chụp hình, không bao giờ bàn tới quay phim cả. Thôi hôm nay viết một bài ngắn viết về phim để thay đổi không khí.

Phim (điện ảnh) được ra đời vào năm 1872, khi ông Leland Stanford, người sang lập ra đại học Standford tại California, cũng là ông Thống Đốc thứ 8 của tiểu bang Cali, nhờ nhà nhiếp ảnh người Anh là ông Eadweard Muybridge chụp một loạt hình ngựa đang nhảy hang rào, vì ông Eadweard được xem như một nhà tiên phong về kểu chụp loạt hình qua máy chụp hình mà có nhiều ống kính (gọi là máy Stereoscopic cameras), ông đã chụp 24 tấm hình và dung một loại máy hoạt động y như đèn kéo quân của Tàu, gọi là Zoetrop, thì cái máy này chạy 24 tấm hình (gọi là Frame) thì ai cũng thấy là tấm hình chuyển động như cảnh sinh hoạt bình thường trong ngày, một điều vô cùng lý thú. Vào năm 1895, nhà thợ điện và chế tạo dung cụ cơ khí là ông Robert W Paul, ông ta là người Anh đã chế ra cái máy chiếu phim đầu tiên để mọi người được xem phim chuyển động.

Mọi người bắt đầu thấy được sự kỳ diệu về sự khám phá mới mẻ vào lúc đó. Sau đó anh em nhà Lumiere người Pháp đã chế ra máy quay phim và chiếu phim và từ đó là có chữ Cinema. Cho đến năm 1903, hai anh em này đã sản xuất ra 2000 cuốn phim. Những cuốn phim của họ là tài liệu về sinh hoạt đời sống hang ngày của con người, xe lửa chạy, người người đi làm tại công xưởng.

Cho đến giờ thì phim (điện ảnh) đã được hơn 100 tuổi, máy quay phim được bán khắp nơi trên thế giới, ai đấy cũng có thể quay phim, làm phim để giữ lại hình ảnh của người trong gia đình và bạn bè khắp nơi.

Trong quá khứ nhiều phát minh nhờ ngẫu nhiên, y như nhà Phật nói là chữ “Duyên”, nhưng có các phát minh tìm ra nhờ tai nạn rất là nhiều, sau nhiều ngày nhà phát minh tìm hoài không ra, đi đụng đầu một cái rầm thì thấy ra liền, chẳng hạn chuyện tìm ra phương pháp rửa hình trắng đen là ông Louis-Jacques-Mandé Daguerre, người Pháp sau nhiều ngày tháng tìm không ra thì bất ngờ làm bể cái hàn thụy biểu, ông tìm ra thuốc chế biến và thời gian rửa phim và từ đó có tên gọi Daguerretype.

Nếu ta có dịp ghé qua Letterman digital arts centre tại San Francisco thì sẽ bức tượng của ông Eadweard Muybridge.

MODE

Mod từ chữ Modernist , đây là một loại văn hóa không được công nhận chính thức mà bắt nguồn từ London, Anh quốc vào cuối thập niên 50 và trở thành hình ảnh quen thuộc từ giữa thập niên 60.

Những yếu tố tiêu biểu loại văn hóa “ngang hông” gồm có : Mốt y phục (những thường là do thợ đo, cắt chứ không phải hang mua sẵn); nhạc Pop, nhạc Soul, nhạc Ska của Jamaican và nhạc Beat của Anh và nhạc R&B; công thêm chiếc xe Vespa của Ý được tân trang.

Một số đông thanh niên Anh đã trở thành nhân vật Mod từ thập niên 60, một hình ảnh Mod luôn lien quan đến chất amphetamine, một chất kích thích tăng lực và thèm ăn, họ sử dụng chất này để có thể nhảy nhót cả đêm trong các vũ trường.
Cho đến năm 1978, một thể loại nhạc mới xuất hiện gọi là Mod Revival tại Anh quốc, sau đó tràn qua Hoa Kỳ nhưng thịnh nhất tại miền nam California.

Loại nhạc này thu hút cả ngàn thanh niên trở thành hội viên Mod, họ tân trang lại chiếc xe Vespa, dùng ký hiệu Không quân Hoàng Gia Anh là huy hiệu của họ, là một vòng tròn được tô một màu xanh nuớc biển rồi thêm một vòng tròn đỏ ở giữa, họ dùng ký hiệu này để sơn lên xe, một cái xe gần cả chục cái kính chiếu hậu và cuối thập niên 70, họ đã làm những cuộc lái xe tập thể chạy ồ ạt tại Scarborough và đảo Isle of Wight.

Vì lý đó vào năm 1979, hãng phim Anh cho ra đời cuộn phim Quadrophenia và các ban nhạc ra đời như The Jam, Scret Affair, Purple Hearts và The Chords. Từ đó đã tạo ảnh hưởng để ra đời hại thể loại nhạc mới vào cuối thập niên 70 là Punk Rock và New Wave.

Khi qua tới Mỹ thì xuất hiện các ban nhạc như The Untouchables. Hình ảnh về Mod được xuất hiện nhiều tại hai khu vực là thành phố L.A và khu Orange county. Tạ đây họ ưa chuộng nhất thể loại nhạc 2 Tone cũng từ Mod mà ra, họ thích là vì những nghệ sĩ hát nhạc này mang nhiều sắc tộc khác nhau là da trắng, da đen, giòng máu lai và cả dân châu á.

Qua thập niên 90 , hình ảnh Mod tại Anh quốc yếu dần nhưng vẫn còn một số ban nhạc xuất hiện vào những năm 90 vẫn có chất Mod trong âm nhạc của họ như ban nhạc Oasis, Blur, Ocean Colour Scene và The Verve.

Y phục của dân Mod pha trộn theo mốt Pháp và Ý , nếu đi vũ trường là may bộ độ vét theo kiểu Ý, là áo vét viền bé, đeo ca ra vát loại mỏng bé, áo sơ mi luôn cài sát cổ, bên ngoài loại áo len cừu cổ chữ V và họ mang giày theo kiểu giày Bowling. Còn bình thường là áo Tennis hiệu Fred Perry,nhưng luôn cài khuy áo, quần Jean và giày Boot. Còn áo khoác của họ là loại áo lính Mỹ Parkas mà quân nhân Mỹ mặc nhiều nhất trong trận chiến Nam Bắc Triều tiền 1953.

Quadrophenia

Đây là một loại phim nói về một thanh niên Anh đến tuổi trưởng thành , nhưng không có một mục đích trong cuộc đời, không có căn bản học vấn nên phải làm việc chân tay, nên đâm ra làm biếng. Anh ta là một thành viên Mod, nên lúc rảnh lái xe Vespa cùng bạn bè, trác tán tại các câu lạc bộ về đêm. Ngày cuối tuần cả hội Mod lái xe về tỉnh lẽ chơi thì đụng độ với băng Rocker lái xe Motor. Thế là hai hội bầy trận chiến đánh xáp lát cà. Trong đoạn phim có một đoạn phim phải phì cười là anh chàng Mod vừa đánh vừa chạy với cô bạn gái. Hai anh chị bị lạc đường, lạc phe của mình thế chạy tọt vào một ngõ hẽm núp. Đứng núp thế nào anh chàng động lòng tà, cùng với cô bạn gái là cùng nhau đứng vui sướng tại chỗ. Còn bên ngoài hai phe vừa đánh vừa la chí choé.

Toàn bộ phim là đều dung nhạc của ban nhạc The Who, chỉ có một bài nhạc tình duy nhất là Rhythm of the Rain (tiếng nhạc đêm mưa).

Phim quay tại thành phố London và tỉnh phía nam nước Anh sát vùng biển là thành phố Brighton. Hôm nay Quân đưa khách hang của mình đi biển chơi, Quân chọn thành phố Brighton, khi đến đó mọi người đi chơi là Quân phải đến nơi quay phim Quadrophenia. Khi đến cái ngõ hẽm nơi hai chị yêu nhau, đứng lúi khúi chụp có một bà Anh đi ngang cười mĩm chi và nói cái đoạn phim này khó mà quên nha. Quân cùng cười lại. Bà ta cũng trên 50 tính ra phim đã được 31 tuổi rồi như vậy đây là phim của thời đại của bà.

Swinging London (Nhún Nhảy London)

Hai chữ Swinging London nói lên sinh hoạt về thời trang và văn hóa tại thành phố London vào thập niên 1960. Không ngờ các sinh hoạt này đã ảnh hưởng rộng rãi trên nhiều quốc gia và trong đó có cả Việt Nam.

Đây là một hiện tượng của tuổi trẻ cho thấy một cái gì rất là mới và tân tiến nhất. Một giai đoạn của đời sống đầy lạc quan và hưởng khoái lạc và tuổi trẻ muốn làm một cách mạng về văn hóa. Tất cả đây cho thấy một sự xúc tác đã được hồi phục của nền kinh tế nước Anh sau thời hậu chiến vì suốt thập niên 50 họ phải cắt giảm mọi ngân sách vì đệ nhị Thế Chiến.

Tờ tạp chí Time, ấn bản ngày 15 tháng 4 năm 1966 đã khai sanh chữ “Swinging London” và cũng để chào mừng các đài radio tại Anh là Private Radio và Swinging Radio England. Chữ “Swinging – Nhún nhảy” ám chỉ nghĩa “Thời trang hiện giờ” hay “Thời trang tân tiến”. Vào năm 1965 bà Diana Vaughan, chủ bút tờ tạp chí Vogue nói là “Hiện giờ London là thành phố Nhún Nhảy nhiều nhất trên thế giới” và sau đó ca sĩ người Mỹ là Roger Miller đã hát bàt “England Swings” và trở thành một đĩa bán chạy nhất trong lúc đó.

Âm Nhạc

Ban nhạc Beatles và Rolling Stone là ảnh hưởng nhiều nhất trong thời đại “Swinging London”. Ban nhạc Beatles đã trở thành kẻ xâm lược đầu tiền vào nền âm nhạc của Hoa Kỳ (gọi là British Invasion) rất thu hút giới trẻ tại Mỹ từ năm 1964 đến 1966. Sau đó là nữ ca sĩ Dusty Springfield với bài “I only want to be with you” , nhưng người Việt Nam mình thì hay nghe bài “You don’t have to say you love me” qua tiếng hát Thanh Lan, lời dịch nhạc sĩ Phạm Duy, mà có khi lại nghe bằng tiếng Pháp nữa chứ. Tiếp theo là các ban nhạc như Animals, Manfred Man, Herman’s Hermits, the Troggs, Rolling Stone, Peter and Gordon... đã gây ảnh hưởng rất lớn trong sinh hoạt tuổi trẻ tại Hoa Kỳ.

Từ đó loại British Invasion đã theo chân các anh chàng lính Mỹ G.I qua tận Việt Nam. Nên vậy khi chúng ta cầm lạc các cuộn băng Cassette sinh hoạt nhạc trẻ Tùng Giang trước năm 1975, nhất là giai đoạn thập niên 70 là chúng ta sẽ thấy các bài hát như “The house of rising sun”, “No Milk Today”, “Mới ngày hôm qua – Yesterday”, “Happy Together”....qua các tiếng hát của các ban nhạc Việt Nam như Uptight, Dreamers, CBC, Crazy dogs, Blue Star, Spot Light, The Peanuts, ca sĩ Elvis Phương, Francoise Hằng..... Có điều một số người sẽ hiểu lầm đây là nhạc Mỹ nhiều hơn nhạc Anh.

Cũng từ đó tại Hoa Kỳ đã sinh anh chàng ca sỹ huyền thoại da đen là Jimi Hendrix với going nhạc trở thành nổi tiếng là Psychedelic Rock, nên gây ảnh hưởng nhiều cho ban nhạc Cream của Anh (trong đó có ca sỹ Eric Clapton). Nhờ đó tại Anh quốc đã ra đời thêm các ban nhạc như Led Zeppelin, Deep Purple và the Jeff Beck Group.

Đại Hội nhạc trẻ tại Việt Nam, được tổ chức lần đầu tiên tại sân vận động Hoa Lư vào đầu thập niên 70, có lẽ đây vẫn được xem một đại hội nhạc lớn nhất của tuổi trẻ Việt Nam, cho đến ngày hôm nay tại Việt Nam vẫn chưa tổ chức được như ngày nào năm ấy. Với tất cả ban nhạc trẻ hung hậu tại miền nam Việt Nam lên trình diễn, thêm lời mời các ban nhạc từ Phi Luật Tân . Các y phục trong ngày hôm ấy đã được mặc theo mốt “Swinging London” rất nhiều, một số ca sỹ Việt Nam như trong ban CBC đã theo mốt Psychedelic Rock hay Jimi Hendrix là màu áo nhuộm sặc sở kiểu Tie Dye.

Tuy nhiên người Mỹ đã có phần chỉ trích loại nhạc “Swinging London” nhất là ban nhạc Beatles không khác nhiều so với ban nhạc “Beach Boy” của Mỹ và đã dừng bức tiến thân của hai ca sĩ người Mỹ là Ben E King và Smokey Robinson.

Ngoài ra lúc đó tại Hoa Kỳ đã xuất hiện ra bốn tứ quái gọi là Monkees với bài hát Daydream believer và ban nhạc Papa and Mamas với bài California dreaming. Đây là những ca khúc trở thành bất hủ nhưng rất tiếc vẫn không cản được làn sóng xâm lăng của nhạc Anh quốc.

Y Phục

Trong thời kỳ “Swinging London”, các hình ảnh về thời trang xuất hiện nhiều nhất trên tạp chí Queen. Bà Mary Quant nhà thiết kế thời trang gây được nhiều sự chú ý nhất. Bà nổi tiếng là nhờ thay đổi chiếc váy dài thành váy ngắn, thật ra vào năm 1958 một số nhà thời trang đã làm ngắn đi chiếc váy rồi, nhưng bà Mary đã thay đổi có mỹ thuật hơn, đẹp hơn nhiều, thích hợp cho các kiều nữ chân dài. Bà đã ra đời cái tên Mini Skirt. Lý do bà chọn Mini là vì rất mê xe hơi và mê nhất xe Mini của Anh, nếu ai đã xem qua phim Italian Job thì khó quên chiếc xe Mini cùa Anh. Ngoài ra bà còn nói đây là một sự cải cách cho người phụ nữ vì dân Anh phải đón xe bus đi làm, nên cái cảnh muộn xe bus hay xảy ra và phải rượt theo xe bus. Mà thời đó xe Bus tại London là cửa lên phía sau, do vậy màn rượt xe rất là bình thường.

Chiếc Mini Skirt rất thịnh hành tại Sài Gòn vào cuối thập niên 60, kéo dài qua thập niên 70. Nếu ai đã xem qua phim “Tứ Quái Sài Gòn” không thể nào quên cảnh vua hề Thanh Việt đi ngơ ngác tại Sài Gòn và thấy các cô gái mặc Mini shirk là Thanh Việt cứ cuối xuống kêu quần thiếu vải.

Ngoài ra loại áo cho phái nam là sơ mi cổ áo to, quần ống loe, dây nịch lớn, mái tóc cắt theo ca sĩ Mick Jagger trong ban nhạc Rolling Stone, mà chúng ta hay kêu cắt theo kiểu “Sì Tôn”.

Lúc đó người mẫu cô Jean Shirmpton, người Anh là một hình tượng nổi bậc nhất của Swinging London, và là một trong những người đầu tiên được gọi là Supermodels vì từ này được ra đời vào thập niên 60. Cô Jean được nhận tiền thù lao nhiều nhất trong lúc đó. Ngoài ra cô Jean được gọi là “Khuôn mặt của thập niên 60” và là “Hiện than của thập niên 60” . Trong thời kỳ đó có những người mẫu nổi tiếng như là Veruschka, Peggy Moffitt, Penelope Tree và Twiggy.

Hai khu vực nổi tiếng bán y phục “Swinging London” là khu Carnaby Street và đường Kings Road tại vùng Chelsea.

Thêm nữa là cờ Anh quốc , cờ Liên Hiệp vương quốc Anh cũng trở thành vật tượng trưng là vì vào năm 1966, nước Anh đã đoạt chức vô địch giải bóng đá thế giới.

Điện Ảnh

Các cuốn phim trở thành đặc trưng của “Swinging London” là phim Blowup, Darling, Alfie, Georgy Girl, Casino Royale (không phải phim 007), Bedazzled, Up the Junction, If...
Gần đây nhất là vào năm 1997 có loại phim cười của Austin Powers.

Những ai đã trưởng thành tại Sài Gòn vào đầu thập niên 70, giờ nghĩ lại “Swinging London” thì ít nhiều cũng phải đồng ý đây là một thời để thương để nhớ.

Amish

Amish còn có thể gọi là “Pennsylvania Dutch”, là một nhóm dân chọn cuộc sống thanh bạch và đơn giản. Nghề nghiệp chính của họ là nghề nông, và họ không bao giờ sử dụng điện, hang điện tử hay máy móc, cơ khí và xe cộ. Tổ tiên của dân Amish từ Đức quốc qua châu Mỹ vào thế kỷ thứ 18, và đại đa số người Amish sống tại Pennsylvania và Ohio tại Hoa Kỳ. Tôn giáo của họ có lien quan đến giong chính thống đạo Mennonites. Tiếng Đức của họ là loại cổ xưa, có thể xem một tiếng Đức địa phương, phát âm nghe khó hiểu hơn tiếng Đức hiện giờ, nên người ta gọi là “Tiếng Đức Pennsylvania”.
Nói chung, người Amish rất là thân thiện đối với mọi người, nếu ai đi ngang qua là họ vẫy tay chào. Tuy nhiên, theo luật tôn giáo của họ là không muốn ai chụp hình họ cả. Nếu họ thấy ta cầm máy hình hướng về họ là họ cuối đầu xuống hoặc quay về phía khác.
Người đàn ông Amish không được phép cạo râu nếu họ đã lập gia đình, ngoài ra không được phép để râu mép. Chỉ đàn ông độc than Amish là được phép cạo râu mà thôi.
Y phục của người Amish rất đơn giản, một màu, không thu hút người khác, tránh dung khuy và phẹc ma tuya trong cách may y phục.
Đối với người Amish khi có con là dạy dỗ đứa bé là điều quan trọng, phải hướng dẫn trẻ em sống trong một đại gia đình. Phục tùng theo cha mẹ và ông bà là truyền thống của người Amish. Một đứa bé trai là phải biết làm ngoài đồng với người cha, làm nông trại và xây cất. Một bé gái làm việc nhà và làm vườn. Họ cho như vậy là hướng dẫn các đứa bé biết nghề nghiệp cho đến lúc trưởng thành.

Khi chơi thể thao thì tất cả thành viên trong gia đình đều tham gia. Đi lễ nhà thờ là nơi tập hợp của toàn thể gia đình.

Quân không viết thêm về người Amish, vì đây là một đề tài rộng lớn, phải mất nhiều năm tháng để tìm tòi. Nhân hai bạn Thái Trang nói về dân Amish tại Canada, Quân góp vài lời cho vui.

Phim Witness

Quân rất thích cuốn phim Witness, nói về người Amish. Phim quay vào năm 1985, Đạo diễn là Peter Weir, diễn viên chính là Harrison Ford. Đây là loại phim mưu sát, hồi hộp và giật gân ly kỳ.
Nội dung chuyện phim là người góa phụ Amish trẻ đẹp cùng cậu con trai 8 tuổi, tên Samuel đi thăm người chị sống ở Baltimore tại Mayland. Đây là lần đầu tiên cậu bé Samuel được đi xe lửa và gặp những người không phải là dân Amish như cậu. Mọi thứ quá mới mẻ với cậu ta, ngay cái bong bong bay được trên không cũng là thứ lạ lung. Khi xe đến Philadelphia, cậu bé chạy đi tè, không ngờ là bắt đầu song gió cho gia đình cậu cũng như khu làng Amish của cậu đang sinh sống. Sau khi tè trong phòng vệ sinh, tính đi ra ngoài thì bất ngờ cậu nhìn thấy một cảnh giết người là hai người đàn ông đâm chết một người nhưng cậu chỉ nhận diện được ông Mỹ đen mà thôi.

Mẹ Rachel và Samuel được giới thiệu gặp đại úy thám tử John Book và trung sỹ Carter để tìm hiểu thêm vụ án mà người bị giết là nhân viên cảnh sát tên là Zenovich. Thế là John và Carter dắt hai mẹ con đi toàn thành phố để nhận dạng sát thủ , rất tiếc không tìm thấy. Sau đó về đồn cảnh sát, cậu bé Samuel đi lang thang trong văn phòng, thấy một tấm ảnh một nhân viên cảnh sát chuyên về việc diệt trừ tội phạm ma túy là trung úy James McFee. Cậu Samuel đứng chết đứng vì đó là hình của kẻ sát nhân cậu thấy trong phòng vệ sinh.

Thám tử John Book biết trung úy James trách nhiệm phá án về vụ buôn lậu hóa phẩm để chế chất ma túy amphetamines, giờ James có ý cướp các hóa phẩm này, mà bị nhân viên Zenovich thấy được, thế là James liền cho anh nhân viên này đi mò tôm luôn. Thám tử trình lại với ông sếp Paul Schaeff, nhưng sếp cứ để yên theo dõi để tìm thêm tang chứng và vật chứng.

Sau đó John đi về nhà , vào đến ga ra là bị trung úy James phục kích, giết người diệt khẩu. John ăn đạn bị thương, thì lúc đó biết luôn ông Sếp Paul của mình cũng là thành viên trong việc cướp hang này. May mắn John chạy thoát. Gặp được mẹ con Rachel, rồi xin đi tị nạn tại khu làng Amish.

Thám tử John Book được chữa thương tại làng Amish, anh ta bắt đầu có cuộc sống với người dân thanh bạch, hoàn toàn khác hẳn với đô thị. Những hình ảnh sinh hoạt của người dân Amish được chiếu nhiều trong đoạn này, cũng như lễ hội, ẩm thực, nghề nông...

Thêm nữa thám tử John Book và cô góa phụ Rachel bắt đầu có tình ý với nhau, cảnh ghen tuông của cậu trai làng vì cậu cũng yêu Rachel. Hình ảnh Quân thích nhất là chàng John và cô Rachel cùng nhau nhảy đầm theo điệu hát bài “The wonderful world” do ca sĩ Sam Cooke hát.

Sau đó trung úy James và sếp Paul đi tìm tung tích của John và họ tìm cách diệt khẩu, nhưng “thiên bất dung nhan”, kẻ ác làm ác thì sẽ chết, còn kẻ hiền sẽ được trời thương. Thám tử Jonh tìm cách chống chọi và sau cùng tên gian ác James bị chết, còn Sếp Paul bị bắt đi tù.

Kết cuộc thám tử John Book phải từ giả làng Amish. Trước khi đi John từ giả câu bé Samuel một cách im lặng và cái nhìn tình tứ đến cô Rachel.

Đây là cuốn phim hay lâu xem lại vẫn thay hay như thường.